MÃ ĐỊNH DANH KHI LẬP GIẤY NỘP THUẾ ĐIỆN TỬ LÀ GÌ?

Kể từ ngày 10/5, ngành thuế sẽ triển khai việc thu nộp thuế theo mã định danh khoản phải nộp (ID) và nâng cấp một số chức năng của các ứng dụng nộp thuế điện tử trên Cổng thông tin điện tử Tổng cục Thuế.

Cụ thể, Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế, bao gồm dịch vụ thuế điện tử eTax phân hệ doanh nghiệp, cá nhân; dịch vụ thuế điện tử trên thiết bị di động eTax Mobile nâng cấp chức năng cho phép người nộp thuế (NNT) tra cứu nghĩa vụ thuế, lập giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước theo mã định danh khoản phải nộp; tra soát, điều chỉnh thông tin thu nộp ngân sách nhà nước theo ID khoản phải nộp.

Mã định danh khoản phải nộp (ID) là một dãy các ký tự được tạo trên hệ thống ứng dụng quản lý thuế của ngành thuế, có tính duy nhất cho từng hồ sơ thuế hoặc khoản phải nộp của người nộp thuế.

Người nộp thuế (NNT) đã có tài khoản giao dịch thuế điện tử truy cập Cổng TTĐT của Tổng cục Thuế để tra cứu tình hình xử lý nghĩa vụ thuế. Cổng TTĐT của Tổng cục Thuế gợi ý xử lý với từng khoản thuế (nộp, tra soát, hoàn, bù trừ). Căn cứ thông tin cơ quan thuế ghi nhận trên ứng dụng, căn cứ hồ sơ cụ thể của NNT, cơ quan thuế giải quyết đề nghị của NNT theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp nộp thuế trên cổng Cổng TTĐT của Tổng cục Thuế, NNT thực hiện nộp thuế theo thứ tự thanh toán đã được sắp xếp và theo mã ID.

Tổng cục Thuế cũng quy định về quy tắc sử dụng mã ID đối với các thuế, khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước như sau:

– Đối với khoản phải nộp liên quan nghĩa vụ tài chính về đất đai: là số thông báo trên Thông báo nộp tiền do CQT ban hành.

– Đối với khoản nộp liên quan lệ phí trước bạ phương tiện: là mã hồ sơ trên Thông báo nộp tiền do CQT ban hành.

– Đối với khoản phải nộp còn lại: là dãy số do hệ thống ứng dụng quản lý thuế tạo, có tính duy nhất cho từng khoản phải nộp của NNT.

Tất cả các khoản phải nộp của NNT đã được ghi nhận tại hệ thống các ứng dụng quản lý thuế của cơ quan thuế trước và sau thời điểm triển khai đều được cấp mã ID.

NNT có thể khai thác mã ID qua các hình thức sau:

– Đối với khoản phải nộp liên quan nghĩa vụ tài chính về đất đai và lệ phí trước bạ phương tiện là số thông báo trên Thông báo nộp tiền hoặc NNT có thể truy vấn thông tin nghĩa vụ thuế trên Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế.

– Đối với khoản phải nộp còn lại, nếu phát sinh trước thời điểm triển khai, NNT truy vấn thông tin nghĩa vụ thuế trên Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế; với các khoản phải nộp phát sinh sau thời điểm triển khai: NNT được cơ quan thuế cung cấp mã ID trên Thông báo chấp nhận hồ sơ khai thuế điện tử.

Khi nộp thuế theo mã ID, hệ thống hỗ trợ tự động điền các thông tin lên giấy nộp tiền. Ngoài ra, cổng TTĐT của Tổng cục Thuế hỗ trợ tạo chứng từ gom các khoản ID có cùng nguyên tắc. Trường hợp nộp thuế qua các kênh của Ngân hàng, Kho bạc nhà nước, NNT điền đầy đủ mã ID vào chứng từ nộp tiền vào NSNN. Trường hợp NNT nộp thuế tạm nộp hoặc nộp cho các khoản chưa có Mã ID thì kê khai đầy đủ thông tin trên giấy nộp tiền.

Việc nộp tiền vào ngân sách nhà nước theo ID khoản phải nộp qua các dịch vụ do Kho bạc Nhà nước, Cổng dịch vụ công quốc gia, ngân hàng cung cấp; sử dụng “số tham chiếu” để truyền nhận chứng từ nộp ngân sách nhà nước giữa các hệ thống, Tổng cục Thuế sẽ tiếp tục có hướng dẫn để các đơn vị/tổ chức phối hợp hoàn thiện quy trình, ứng dụng đáp ứng yêu cầu nộp thuế.

Với việc thực hiện thu nộp thuế theo ID, sẽ có nhiều lợi ích thiết thực cho cả cơ quan thuế cũng như NNT.

Theo đó, cơ quan thuế sẽ tiếp nhận chứng từ nộp tiền vào NSNN có ID khoản phải nộp, xử lý bù trừ đích danh khoản phải nộp với khoản đã nộp theo ID. Đồng thời, xử lý hồ sơ đề nghị tra soát, điều chỉnh thông tin thu nộp NSNN theo ID.

Trường hợp chứng từ không có ID khoản phải nộp, cơ quan thuế đã thực hiện tra soát hoặc cung cấp thông tin qua Cổng thông tin điện tử Tổng cục Thuế để NNT tra soát nhưng đến ngày hệ thống xử lý bù trừ nghĩa vụ thuế định kỳ hàng tháng vẫn chưa có thông tin ID khoản phải nộp thì hệ thống tiến hành xử lý bù trừ theo quy tắc hiện hành đáp ứng quy định về thứ tự thanh toán tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt tại Luật Quản lý thuế.

Ngoài ra, trường hợp nộp trên Cổng thông tin điện tử Tổng cục Thuế, NNT chỉ cần chọn ID khoản phải nộp, hệ thống tự động hỗ trợ điền thông tin liên quan lên giấy nộp tiền, giúp tiết kiệm thời gian, chi phí và hạn chế sai sót. ID khoản phải nộp được lựa chọn thanh toán đáp ứng quy định về thứ tự thanh toán thì được trừ nợ đích danh theo khoản NNT lựa chọn nộp.

Cùng với đó, khi nộp thuế theo ID khoản phải nộp, số tiền thuế đã nộp được bù trừ nợ đích danh trong ngày cơ quan thuế nhận được chứng từ có ID chính xác. Khi NNT thực hiện nộp thuế vào NSNN theo thứ tự thanh toán quy định tại Luật Quản lý thuế, việc thanh toán theo thứ tự nhằm đảm bảo lợi ích tối đa cho NNT, tháo gỡ kịp thời các rào cản trong hoạt động do biện pháp cưỡng chế nợ thuế gây ra…

Đối với khoản phải nộp liên quan nghĩa vụ tài chính về đất đai, lệ phí trước bạ phương tiện và các khoản thu khác thuộc NSNN do cơ quan thuế quản lý thu không thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 57 Luật Quản lý thuế thì không phải thanh toán theo thứ tự.

Đối với NNT đã có tài khoản giao dịch thuế điện tử truy cập Cổng thông tin điện tử Tổng cục Thuế để truy vấn khoản phải nộp đã được hỗ trợ sắp xếp thứ tự thanh toán.

Trường hợp nộp thuế trên Cổng thông tin điện tử Tổng cục Thuế, NNT bắt buộc phải nộp thuế theo thứ tự thanh toán đã được sắp xếp. Với trường hợp nộp tại ngân hàng, kho bạc Nhà nước, Cổng Dịch vụ công quốc gia, NNT tự xác định thứ tự thanh toán các khoản phải nộp để lập giấy nộp tiền vào NSNN.

Trường hợp NNT không nộp theo đúng thứ tự thanh toán, cơ quan thuế khi tiếp nhận chứng từ sẽ không trừ nợ theo khoản phải nộp NNT lựa chọn mà tự động trừ nợ theo thứ tự thanh toán tại Luật Quản lý thuế.

* Tham khảo thêm tại:

Replace post