ĐIỂM LƯU Ý VỀ VIỆC DÙNG TỶ GIÁ CÁC KHOẢN CÔNG NỢ GỐC NGOẠI TỆ SAU KHI ĐÃ ĐÁNH GIÁ LẠI CUỐI NĂM TÀI CHÍNH TRƯỚC ĐÓ

I. VỀ QUY ĐỊNH CHUNG:

Các doanh nghiệp có nghiệp vụ kinh tế phát sinh bằng ngoại tệ phải thực hiện ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính theo một đơn vị tiền tệ thống nhất là đồng Việt Nam hoặc đơn vị tiền tê kế toán. Việc quy đổi đồng ngoại tệ ra đơn vị tiền tệ kế toán phải căn cứ vào:

– Tỷ giá giao dịch thực tế (hay còn gọi là tỷ giá gốc).

– Tỷ giá giao dịch ghi sổ (hay còn gọi là tỷ giá tại ngày giao dịch).

Vậy theo Thông tư 26/2015/TT-BTC tại Điểm 3 Khoản 4 Điều 2 có quy định như sau:

“3. Trường hợp phát sinh doanh thu, chi phí, giá tính thuế bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch thực tế theo hướng dẫn của Bộ Tài chính tại Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22 tháng 12 năm 2014 hướng dẫn về chế độ kế toán doanh nghiệp như sau:

– Tỷ giá giao dịch thực tế để hạch toán doanh thu là tỷ giá mua vào của Ngân hàng thương mại nơi người nộp thuế mở tài khoản.

– Tỷ giá giao dịch thực tế để hạch toán chi phí là tỷ giá bán ra của Ngân hàng thương mại nơi người nộp thuế mở tài khoản tại thời điểm phát sinh giao dịch thanh toán ngoại tệ.”

 

Nguyên tắc xác định tỷ giá giao dịch thực tế (hay còn gọi là tỷ giá gốc):

 

Tại Thông tư số 200/2014/TT-BTC quy định về các trường hợp thanh toán nợ có liên quan tới tỷ giá như sau:

“1.3. Nguyên tắc xác định tỷ giá giao dịch thực tế:

a) Tỷ giá giao dịch thực tế đối với các giao dịch bằng ngoại tệ phát sinh trong kỳ:

– Tỷ giá giao dịch thực tế khi mua bán ngoại tệ (hợp đồng mua bán ngoại tệ giao ngay, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng hoán đổi): Là tỷ giá ký kết trong hợp đồng mua, bán ngoại tệ giữa doanh nghiệp và ngân hàng thương mại;

– Trường hợp hợp đồng không quy định tỷ giá thanh toán thì doanh nghiệp ghi sổ kế toán theo nguyên tắc:

+ Tỷ giá giao dịch thực tế khi góp vốn hoặc nhận vốn góp: Là tỷ giá mua ngoại tệ của ngân hàng nơi doanh nghiệp mở tài khoản để nhận vốn của nhà đầu tư tại ngày góp vốn;

+ Tỷ giá giao dịch thực tế khi ghi nhận nợ phải thu: Là tỷ giá mua của ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp chỉ định khách hàng thanh toán tại thời điểm giao dịch phát sinh;

+ Tỷ giá giao dịch thực tế khi ghi nhận nợ phải trả: Là tỷ giá bán của ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp dự kiến giao dịch tại thời điểm giao dịch phát sinh.

+ Đối với các giao dịch mua sắm tài sản hoặc các khoản chi phí được thanh toán ngay bằng ngoại tệ (không qua các tài khoản phải trả), tỷ giá giao dịch thực tế là tỷ giá mua của ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp thực hiện thanh toán.” 

 

II. VỀ ĐIỂM LƯU Ý:

Tuy nhiên, trong thực tế hạch toán, tại cuối năm tài chính các doanh nghiệp nếu còn số dư công nợ (131, 331) có gốc ngoại tệ thì đã thực hiện đánh giá lại theo một tỷ giá chung tại ngày cuối năm tài chính.

Và các quy định sau này thì cũng không còn việc hoàn nhập các bút toán đó nữa.

Vậy, kế toán cần lưu ý với các thời điểm sau đó, khi công ty thực hiện thanh toán hay nhận thanh toán các số dư công nợ (131, 331) có gốc ngoại tệ kéo dài từ năm ngoái qua như trên, thì việc đánh giá chênh lệch tỷ giá (giữa tỷ giá của ngân hàng tại ngày giao dịch so với tỷ giá gốc) sẽ nên áp dụng trên tỷ giá chung tại ngày cuối năm tài chính trước đó mà doanh nghiệp đã đánh giá quy đổi.

Replace post